Lược lịch sử chùa Linh Quang

Thứ năm - 06/04/2017 01:18
Chùa Linh Quang làng Linh Chiễu đã có mặt đến nay gần 300 năm (khoảng 1740). Lúc ban đầu xây dựng tọa lạc tại xứ ổ gà cồn chùa và được cấp 5 sào ruộng (gọi ruộng tam bảo để hương khói)....
Tham khảo sách Đại Nam nhất thống chí, do quốc sữ triều Nguyễn biên soạn, tập I nhà xuất bản khoa học XH in năm 1986 có trang nói về Quảng Trị. Bộ Giáo Dục xuất bản năm 1961. Đạo Phật du nhập đến Quảng Trị vào triều đại vua Lê Ý Tông, năm thứ II chúa Nguyễn Phúc Khoát  (Vũ Vương) 1738-1765. Ngài Chí Khả hiệu Tánh Tu, người Trung Quốc vào lập am tu tại xứ Bàu Voi, xã Ái Tử, huyện Đăng Xương (Triệu Phong bây giờ), tỉnh Quảng Trị là vị khai sơn chùa Sắc Tứ Tịnh Quang. Được Chúa ban sắc bốn chữ trên bảng vàng là Sắc Tứ Tịnh Quang, Phật giáo Quảng Trị bắt nguồn từ đó.

 
Qua sự tham khảo di tích lịch sử văn hóa kết hợp với sự tham vấn các vị chủ tự “truyền thồng” và các lão thành tri thức có am hiểu về lịch sử của làng, chúng tôi nhận thấy có nhiều điều trùng hợp, như vậy chùa Linh Quang làng Linh Chiểu đã có mặt đến nay gần 300 năm (khoảng 1740). Lúc ban đầu xây dựng tọa lạc tại xứ ổ gà cồn Chùa và được cấp 5 sào ruộng (gọi ruộng tam bảo để hương khói) đến năm Gia Long thứ IX (1802 – 1819) trong làng có bà Nguyễn Thị Gạnh (nhũ mẫu của vua) hiện mộ bà tọa lạc cạnh sau nhà văn hóa trung tâm thôn; bà cho xây dựng ngôi chùa tại sứ khém và được vua ban sắc là: “Sắc tứ Linh Quang tự”. kiến trúc và thiết trí theo kiểu chùa xưa, diện tích khá rộng; ngoài vào tả hữu thờ Thiên Long hộ pháp, có hai dãy tay đấm, tay cú thiết bảng sơn son thiếp vàng, giữa chánh điện bàn ngoài thờ đức Bổn sư, dãy khám sau giữa thờ tam thế và các vị Phật Bồ tát, tả hữu thờ Thánh hiền và Thần linh, hậu liên thờ tiền khai canh, hậu khai khẩn, thập nhị tôn phái, tiền hậu công đức, các vị trụ trì các đời. từ khi tạo lập cho đến khi bị tàn phá làng đã nhiều lần tu sữa sau đó khi chiến tranh pháp chấm dứt làng lại một lần nữa trùng tu lại ngôi chùa, năm 1955 làng khánh thành, tổ chức đại trai đàn giải oan bạt độ, chẩn tế âm linh cô hồn, thượng tọa Thích Ân Cần (trụ trì chùa Sắc tứ Tịnh Quang sám chủ chứng minh). Sau 2 năm vì ngoại cảnh gây nên thầy chủ tự phải rời ngôi chùa xưa cổ kính, chiến tranh Mỹ tàn phá tiêu tan chỉ còn lại đống gạch vụn, ngôi chùa làng biến mất từ đó.

Các vị trụ trì, chủ tự qua các đời:
  • Từ đầu thế kỷ XIX có Thầy Thích Hải Chiếu trụ trì, không rõ quê quán. Hậu bán thế kỷ XIX ông Nguyễn Đăng Lý làm chủ tự rồi  Thầy Thích Thanh Nguyên tự Lưu Phương làm chủ tự
  • Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX tỳ kheo Trừng Lệ tự Đề Huề hiệu Phước Thiện làm trụ trì, kế tiếp thầy Trừng Hữu tự Thích Quang Lệ làm chủ tự.
  • Đến ngày 01 tháng 04 năm Đinh Dậu (1957) thượng tọa Thích Đức Minh chánh hội trưởng tỉnh Giáo Hội Phật Giáo Tỉnh Quảng Trị cử 2 đạo hữu trong Ban trị sự tỉnh là đạo hữu Nguyễn Tĩnh và đạo hữu Võ Bàn về thành lập Khuôn Giáo Hội Phật Giáo Linh Chiểu. Địa phương có ông Trần Đình Uyển làm thôn trưởng thông báo cho dân chúng trong làng đến đăng ký danh sách tham gia khuôn giáo hội. Cử bác Nguyễn Đăng Nồng làm khuôn trưởng, Bác Nguyễn Đăng Vỹ làm khuôn phó; Mượn nhà thờ họ Nguyễn Đăng để thờ Phật và là nơi đạo hữu lễ bái và tu học. Trong 3 năm thờ phụng tại họ Nguyễn Đăng, khuôn hội tìm đủ mọi cách để gây quỹ xây dựng chùa, như nhận lãnh canh phá, đắp đê, cuốc ruộng, quyên góp có được số tiền tương đối. Năm 1960, xây ngôi chùa tại xứ Chúc ao, diện tích 1200m2, đất do bà Nguyễn Thị Thí (Bờ) cúng dường, đến 1961 chùa xây dựng hoàn thành; đã tổ chức khánh thành và quy y cho đạo hữu, huynh trưởng, đoàn sinh GĐPT (ngày 8-2 năm Tân Sửu), đến năm 1968, chiến tranh Mỹ tàn phá lại một lần nữa bị bom đạn tiêu tan chỉ còn lại 4 bức tường trơ trụi, nhân dân phải đi định cư tại cây số 5 (đất Ngô Xá Tây xã Triệu Trung). Sau Tết Mậu Thân trở về quê củ nhưng vị quy dân lập ấp ở tập trung tại vùng gia quan giữa làng, lại thêm một lần nữa phải quyên góp và nhờ sự hảo tâm cúng dường để xây dựng ngôi chùa tạm tại xứ gia quan (vườn củ của ông Nguyễn Phước Nghi). Chiến tranh tiếp tục nhân dân phải đi sơ tán, người ra kẻ vào, lần nữa bom đạn tàn phá  chỉ còn lại bộ sườn sắt nhiều lỗ thủng của bom đạn. mãi đến ngày 30.4.1975 đất nước hoàn toàn giải phóng, trở về quê hương, bà con phật tử lấy 4 vài sắt còn xót lại về dựng lại nền chùa củ xứ chúc ao để có nơi tu học lễ bái cho đến năm 1978 thủy lợi Nam Thạch Hãn đi xuyên qua phải di dời (được bồi thường 620 đồng), lần này chùa được dựng tại xứ vạt cháy với những khung sắt rét rĩ còn xót lại. Đến năm 1990 tu sữa lại tường được xây bằng bờ lô, đòn tay cọc sắt, lợp ngói, ngày 3 tháng 11 năm 1991 thượng tọa Thích Chánh Trực Chánh đại diện tỉnh giáo hội Việt Nam Tỉnh Quảng Trị, Thượng Tọa Thích Phước Châu về an vị, quy y cho đạo hữu, huynh trưởng, đoàn sinh gđpt.

Đại diện trưởng ban hộ tự khi thành lập khuôn hội đến nay qua các đời: 1964 đạo hữu Trần Uyển làm khuôn trưởng thay đ/h Nguyễn Đăng Nồng. 1969 khuôn hội thỉnh cầu thầy Thích Quang Lệ làm khuôn trưởng và cố vấn giáo hạnh. 1977 vì sức khỏe nên thầy xin nghỉ, 1978 đề cử đ/h Nguyễn Đăng Điền làm đại diện, đ/h Nguyễn Phước Lư làm phó đại diện, đến 1988 đ/h Nguyễn Đăng Điền xin nghỉ vì lý do sức khỏe. 1989 đến 1991 cử đ/h Trần Đình Thế làm đại diện. 1992 cử đ/h Nguyễn Đăng Tạc làm đại diện, đ/h Nguyễn Phước Lư làm trưởng ban hộ tự, đ/h Nguyễn Đăng Thược làm thư ký.
Vì ngôi chùa đã cũ kỷ, chật hẹp mà phật tử ngày một đông nên ban hộ tự, bà con phật tử quyết định đặt móng xây dựng ngôi chùa rộng rãi hơn, lễ đặt đá vào ngày 16/6 năm ất hợi (13/7/1995). Trong lúc xây dựng quỹ chỉ được 1.900.000đ và 30 thúng lúa, trong ngày đặt móng bà con trong thôn cúng dường 12.000.000đ và bà con phật tử khắp mọi miền, trong và ngoài nước đã hảo tâm cúng dường. nhờ lực gia trì của tam bảo nên ngôi chánh điến dần dần cũng hoàn thành. Năm 2000 với sự hảo tâm cúng dường của nhân dân qua các lễ: cầu an đầu năm, lễ vu lan báo hiếu, múa lân mừng xuân di lặc đồng thời các phật tử phát tâm vào nam quyên góp, vay mượn hợp tác xã nên đã xây dựng hoàn thành phần thô ngôi tiền đường.
Năm 2012, cung thỉnh Sư Cô Thích Nữ Hạnh Định về trụ trì (nhập tự ngày 20/2/quý ty), trong thời gian này tiến hành xây dựng đài quán thế âm, tường rào, sân chùa và 4 trụ biểu. Sư cô tiếp tục cơ nới và hoàn thiện ngôi phạm vũ, xây dựng ngôi nhà chúng, nhà giảng đường, nhà thờ tiền hậu công đức và công trình phụ.

Nguồn tin: PGQT

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây